CHẤT BẢO QUẢN CHO CÁC LOẠI CÁM

Rate this post

Để tiết kiệm chi phí được tối đa, bà con thường tận dụng những nguyên liệu có sẵn từ địa phương hoặc gia đình làm ra để có nguồn thức ăn cho vật nuôi. Thức ăn vật nuôi được chế biền dưới 2 dạng là dạng cám viên và dạng bột. Đối với những hộ chăn nuôi tự sản xuất thức ăn cho vật nuôi thì hầu như nguồn thức ăn không sử dụng chất bảo quản. Thức ăn chăn nuôi chiếm phần lớn chi phí sản xuất chăn nuôi nói chung. Do đó, việc sử dụng và bảo quản thức ăn rất được bà con quan tâm, nhằm tiết kiệm và tạo ra năng suất tối đa cho người chăn nuôi.Vậy làm thế nào để bảo quản được cám sau khi sản xuất ra được lâu dài? Bài viết sau đây sẽ giúp bà con chăn nuôi bảo quản cám của mình sản xuất ra.

NISIN – CHẤT BẢO QUẢN CHO CÁC LOẠI CÁM  VẬT NUÔI
Nisin là gì?

    Nisin là một peptit kháng khuẩn đa vòng, được cấu tạo từ 34 gốc axit amin. Các loại axit amin phổ biến có trong phân tử nisin là lanthionine (Lan), methyllanthionine (MeLan), didehydroalanine (DHA) và axit didehydroaminobutyric (Dhb).

   Nisin lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1928, nhưng phải đến năm 1959 mới được sử dụng như một chất bảo quản thực phẩm ở Anh. Năm 1969, tổ chức nông nghiệp và thực phẩm (gọi tắt là FAO, một ủy ban chuyên gia về phụ gia thực phẩm của tổ chức y tế thế giới WHO) đã công nhận nisin là một phụ gia thực phẩm an toàn và được phép sử dụng cho người ở 50 quốc gia trên thế giới bao gồm các nước trong liên minh Châu Âu và một số nước ở Châu Á, Châu Phi.

   Ở Mỹ, nisin cũng đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) công nhận là an toàn, được coi là chất bảo quản có nguồn gốc sinh học và dùng như một phụ gia thực phẩm từ năm 1988 cho đến nay.

    Nisin do các chủng vi khuẩn lactic trong quá trình lên men sữa. Nisin có hoạt tính kháng vi sinh vật, là một tác nhân kháng khuẩn tự nhiên và không thể tổng hợp nhân tạo.

Trong công nghiệp, nisin được thu bằng cách nuôi Lactoccus lactis trong sữa, hoặc trong dung dịch đường dextrose. Quá trình sản xuất được tuân theo các điều kiện vệ sinh rất nghiêm ngặt và đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe nhất đối với thực phẩm.
Tác dụng kháng khuẩn của nisin

   Nisin có thể bám dính lên thành tế bào vi khuẩn mà không cần các thụ thể (khả năng bám dính phụ thuộc vào độ PH môi trường). Sau đó, nisin phá vỡ thành tế bào dẫn đến sự thoát các ion kali, magie ra ngoài. Ngoài ra, nisin còn ức chế quá trình tổng hợp peptidoglycan nên chỉ có tác động lên vi khuẩn gram dương.

   Nisin có hiệu quả trong việc kiểm soát một loạt các vi khuẩn gram dương và các bào tử của chúng bao gồm:Listeria, Enterococcus, sporothermodurans, và Clostridium (gây ngộ độc thực phẩm bằng cách sinh độc tố). Nếu các vi khuẩn này hiện diện với số lượng lớn hay khi chúng phát triển mạnh trong thực phẩm, sẽ sản sinh lượng độc tố đủ mạnh có thể gây ra ngộ độc thực phẩm cấp tính. Với các biểu hiện nôn mửa, tiêu chảy, đau quặn bụng, nhức đầu… xảy ra sau khi ăn thực phẩm bị ô nhiễm khoảng 2 – 48 giờ, nặng hơn có thể dẫn đến tử vong, đặc biệt ở nhóm đối tượng có sức đề kháng yếu, phụ nữ mang thai, người già và trẻ em.

    Khi sử dụng riêng lẻ, nisin không có hiệu quả trên vi khuẩn gram âm (như E.coli), nấm men và nấm mốc. Trong trường hợp bình thường, các vi khuẩn gram âm có khả năng kháng nisin chủ yếu là do màng không thấm nước bên ngoài của chúng. Tuy nhiên, nisin có thể được hiệu quả chống lại các vi khuẩn gram âm nếu được sử dụng kết hợp với các tác nhân gây mất ổn định màng tế bào bên ngoài như khi xử lý ở các điều kiện làm lạnh, nhiệt độ cao, trong môi trường pH thấp (pH 2-6), hay khi sử dụng kết hợp với chất bảo quản khác như lysozyme (từ lòng trắng trứng), enterocin (một chất kháng khuẩn mới được phân lập từ Enterococcus faecium)…
Ngoài ra Nisin còn có tác dụng bảo quản tốt cho các loại cám trong quá trình sản xuất
Với khả năng kháng khuẩn như vây, cộng thêm việc khi bổ sung vào thực phẩm nisin không làm làm ảnh hưởng đến các chất dinh dưỡng cũng như màu, mùi vị, hay trạng thái các loại cám, nên nisin được sử dụng rộng rãi như một phụ gia bảo quản
Hàm lượng sử dụng và hạn chế

    Theo ủy ban khoa học về thực phẩm (SCF- Scientific committee for food), lượng nisin lượng tiêu thụ hàng ngày chấp nhận được (ADI – Acceptable Daily Intake) là 0,13 mg/kg thể trọng, giá trị này được công bố từ năm 1990 và được ủy ban an toàn thực phẩm Châu Âu xác nhận vào năm 2006.

   Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, người ta thường sử dụng nisin ở các nồng độ khác nhau, từ 1-25 phần triệu (ppm, 1 ppm tương ứng với 1 milligram một chất nào đó trên 1 lít chất lỏng (mg/l) hay mỗi kg (mg/kg)) tùy thuộc vào thức ăn và hàm lượng cho phép sử dụng đã quy định riêng ở mỗi quốc gia.

    Liên minh châu âu (EU) cũng đã có đề xuất về việc sử dụng nisin trong quá trình thanh trùng trứng lỏng và các sản phẩm trứng lỏng với hàm lượng không vượt quá 6,25 mg/L.

   Tổ chức nông nghiệp và thực phẩm thế giới (FAO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng có những quy định về giới hạn sử dụng nisin bổ sung vào thực phẩm như sau: Các sản phẩm từ ngũ cốc và tinh bột dùng làm bánh, hàm lượng nisin cao nhất được dùng là 3 mg/kg nguyên liệu; phô mai chín, protein tách từ lớp trên cùng của khối phô mai sau khi kết đông và các sản phẩm làm từ phô mai cho phép sử dụng nisin với hàm lượng 12 mg/kg.
Quý khách hàng có nhu cầu mua hàng hoặc cần tư vấn vui lòng liên hệ ở cuối trang web hoặc hotline 0947 464 464. Trân trọng cảm ơn!

  .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chinese (Simplified)EnglishGermanJapaneseKoreanVietnamese